The Holy See
back up
Search
riga

PONTIFICIO CONSIGLIO DELLA GIUSTIZIA E DELLA PACE

 

* Nguyên tác:
Compendium of the Social Doctrine of the Church
Copyright 2004
Libereria Editrice Vaticana
* Được sự chấp thuận của Nhà Xuất Bản

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Của Đức Hồng y Angelo Sodano,
Quốc Vụ Khanh
Bộ Trưởng Ngoại giao Toà Thánh Vatican
Phủ Quốc Vụ Khanh         Vatican, ngày 29-06-2004
N. 559.332
Kính gửi Đức Hồng y Renato Raffaele Martino,
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh

 

Đức Hồng y kính mến,

Suốt ḍng lịch sử Giáo Hội và đặc biệt trong mấy thế kỷ gần đây, Giáo Hội – theo lời Đức Lêô XIII – đă không ngừng nói lên tiếng nói của ḿnh về những câu hỏi liên quan đến cuộc sống trong xă hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă tiếp tục công bố và cập nhật di sản về Học thuyết Xă hội Công giáo. Về phần ḿnh, ngài đă công bố ba thông điệp quan trọng – Laborem Exercens, Sollicitudo Rei Socialis và Centesimus Annus – tŕnh bày những bước cơ bản của tư tưởng Công giáo trong lĩnh vực này. Nhiều giám mục trên toàn thế giới trong giai đoạn gần đây đă đóng góp những hiểu biết sâu xa hơn về Học thuyết Xă hội Công giáo qua các công tŕnh của họ. Vô số những học giả trên các lục địa cũng vẫn đang làm như vậy.

1. V́ thế, chúng ta hy vọng rằng một bản tóm lược thu thập tất cả các chất liệu trên và tŕnh bày một cách hệ thống, sẽ giới thiệu những điều cơ bản của Học thuyết Xă hội Công giáo. Thật đáng ca ngợi khi Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh đă đảm nhận nhiệm vụ này và đă cố gắng hết sức ḿnh cho công tŕnh trong những năm gần đây.

Tôi rất vui mừng khi thấy cuốn “Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo” được xuất bản, và cùng chia sẻ với Đức Hồng y niềm vui mừng được trao gửi tập sách đến tất cả tín hữu và những người thiện chí như một thứ lương thực cần thiết để phát triển nhân cách và tinh thần, cho mọi cá nhân và mọi cộng đồng.

2. Tài liệu này cũng tŕnh bày giá trị của Học thuyết Xă hội Công giáo như một phương tiện để rao giảng Tin Mừng (x. Centesimus Annus, 54), bởi v́ tài liệu này đặt con người và xă hội trong mối tương quan với ánh sáng Tin Mừng. Những nguyên tắc của Học thuyết Xă hội Công giáo đặt nền tảng trên luật tự nhiên, v́ thế được xác nhận và củng cố trong niềm tin của Giáo Hội nhờ Tin Mừng của Đức Kitô.

 Dưới ánh sáng soi đường như vậy, mọi người, nam cũng như nữ, trước hết được mời gọi tự khám phá chính ḿnh như những hữu thể siêu việt, trong mọi chiều hướng của cuộc sống, bao gồm tất cả những ǵ có liên quan đến mọi nội dung xă hội, kinh tế và chính trị. Niềm tin mang đến cho gia đ́nh một ư nghĩa đầy đủ, ư nghĩa này đặt nền tảng trên cuộc hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để làm nên tế bào đầu tiên và vô cùng quan trọng của xă hội loài người. Hơn  nữa, chính niềm tin toả ánh sáng trên vinh quang của lao động, mà khi hoạt động của con người nhắm mục tiêu đem đến sự sung măn cho chính con người, th́ lao động này vừa chiếm vị trí ưu tiên so với vốn liếng tiền bạc con người bỏ ra và vừa xác định quyền lợi chính đáng của con người trong việc chia sẻ những thành tựu do lao động đó làm ra.

3. Qua bản Tóm lược này, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của các giá trị đạo đức đặt nền móng trên luật tự nhiên được ghi khắc trong lương tâm của con người; v́ thế, mỗi lương tâm con người bắt buộc phải nh́n nhận và tôn trọng luật tự nhiên này. Nhân loại ngày nay đi t́m một thứ công lư lớn hơn phù hợp với hiện tượng toàn cầu hoá; nhân loại có sự quan tâm sâu sắc về sinh thái và một sự quản lư đúng đắn đối với những công việc chung; nhân loại cũng cảm thấy cần phải bảo vệ những ư thức thuộc về dân tộc mà không mất đi tầm nh́n về con đường dẫn đến luật pháp và nhận thức về sự đoàn kết toàn thể gia đ́nh nhân loại. Thế giới lao động, đă thay đổi sâu xa nhờ những tiến bộ kỹ thuật hiện đại, đang giúp cho con người nhận ra những mức độ lạ lùng về mặt phẩm chất của lao động, nhưng tiếc thay cũng cho con người thấy những h́nh thức bất ổn mới, những phương thức bóc lột mới, và ngay cả sự nô lệ bên trong những xă hội được coi là giàu có sung túc. Tại những vùng khác nhau trên hành tinh này, mức sống sung túc tiếp tục phát triển, nhưng cũng vẫn có một sự gia tăng đầy sợ hăi con số những người rơi vào cảnh nghèo đói, và v́ nhiều lư do khác nhau, hố ngăn cách giữa những nước kém phát triển và những nước giàu đang càng ngày càng sâu thêm. Thị trường tự do tuy là một tiến tŕnh kinh tế với những khía cạnh tích cực, nhưng vẫn cho thấy những giới hạn của chính thị trường ấy. Mặt khác, t́nh yêu dành ưu tiên cho những người nghèo nói lên sự lựa chọn rất căn bản của Giáo Hội và Giáo Hội giới thiệu t́nh yêu thương đó cho tất cả mọi người thiện chí.

 V́ thế, rơ ràng là Giáo Hội phải làm cho tiếng nói của ḿnh vang dội đến mọi người về ‘những điều mới mẻ’ (res novae) tiêu biểu của thời hiện đại, bởi v́ Giáo Hội có nhiệm vụ mời gọi mọi người làm tất cả những ǵ có thể được để hướng đến một nền văn minh đúng nghĩa càng ngày càng nhắm tới sự phát triển toàn diện của con người trong t́nh liên đới.

4. Những vấn đề về xă hội và văn hoá hiện nay có liên quan đến tất cả anh chị em giáo dân,  như Công đồng Vatican II đă nhắc nhở chúng ta, để mời gọi họ đối diện với những vấn đề trần thế và hướng dẫn họ theo ư muốn của Thiên Chúa (x. Lumen Gentium, 31). V́ thế, chúng ta có thể hiểu một cách dễ dàng tầm quan trọng mang tính cơ bản của việc đào tạo giáo dân để cho sự thánh thiện từ cuộc sống của họ và sức mạnh qua những chứng tá của họ sẽ đóng góp vào sự tiến bộ của loài người. Tập tài liệu này nhắm mục tiêu giúp họ hoàn thành sứ mạng hằng ngày đó của ḿnh.

Hơn nữa, chúng ta cũng rất vui khi thấy nhiều phần được tŕnh bày trong sách này cũng đă được các Giáo hội khác, các Cộng đồng Giáo hội cũng như các Tôn giáo khác đón nhận. Bản văn đă được tŕnh bày theo một cách thức để giúp ích không những cho cộng đồng tín hữu Công giáo mà c̣n cho các thành phần ngoài Công giáo. Thật vậy, tất cả những ai cùng chia sẻ phép Thanh Tẩy với chúng ta, cũng như tín đồ của các Tôn giáo khác và tất cả mọi người thiện chí có thể t́m thấy, qua bản văn này, những cơ hội tốt để suy nghĩ và một động lực chung để phát triển toàn diện mỗi người và mọi người.

5. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong khi hy vọng rằng tài liệu này sẽ giúp nhân loại t́m kiếm một cách tích cực cho công ích, đă cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả những ai dừng lại để suy nghĩ về những giáo huấn của cuốn sách này. Với những lời chúc tốt đẹp nhất của cá nhân tôi dành cho sự thành công của cố gắng lớn lao này, tôi xin chúc mừng Đức Hồng y và những người cộng tác với Đức Hồng y trong Hội Đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh đă thực hiện công việc quan trọng này. Xin Đức Hồng y nhận nơi đây t́nh cảm kính trọng chân thành của tôi.

 

Trong Chúa Kitô,
Hồng y Angelo Sodano,
Bộ Trưởng Ngoại giao Toà Thánh

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

Của Đức Hồng y Renato Raffaele Martino

Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh

Tôi vui mừng giới thiệu bản Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo, mà theo yêu cầu của Đức Thánh Cha, đă được soạn thảo để cung cấp một cái nh́n chính xác và toàn diện về những giáo huấn xă hội của Giáo Hội.

Những thực tế xă hội đang đổi thay so với sức mạnh của Tin Mừng, mà các anh chị em tín hữu như những chứng nhân cho Đức Giêsu Kitô đang phải đối mặt, luôn luôn là một thách đố, và vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, thử thách ấy vẫn c̣n tồn tại. Việc công bố Đức Giêsu Kitô, như là “Tin Mừng” đem lại sự cứu độ, t́nh yêu, công lư và hoà b́nh, không phải được thế giới hôm nay sẵn sàng đón nhận, nhưng lời công bố này c̣n bị phá huỷ bởi chiến tranh, nghèo đói và bất công. V́ lư do rất chính đáng đó mà mọi người trong thời đại ngày nay càng cần đến Tin Mừng hơn bao giờ hết: Tin Mừng của niềm tin để cứu thoát, của hy vọng để thắp sáng và của bác ái để yêu thương.

Giáo Hội hiểu rất rơ về nhân loại và khi cảm nghiệm được trước với niềm tin và với sự dấn thân tích cực, Giáo Hội vẫn luôn hướng về một “trời mới” và một “đất mới” (2 Pr 3,13) mà Giáo Hội muốn chỉ rơ cho từng con người để giúp họ sống đúng với ư nghĩa của đời ḿnh. “Gloria Dei vivens homo”: một khi con người sống trọn vẹn theo phẩm giá của ḿnh sẽ làm vinh danh Thiên Chúa, Đấng đă trao ban phẩm giá đó cho mỗi con người.

Những bài học sau đây trên hết nhằm mục đích duy tŕ và cổ vũ mọi hoạt động của người Kitô hữu về phương diện xă hội, đặc biệt là những hoạt động của các giáo dân có liên quan cụ thể đến các lĩnh vực này: Toàn bộ cuộc sống của họ phải được coi như một công tŕnh loan báo Tin Mừng mang lại những hiệu quả thiết thực. Mọi tín hữu trước hết phải học cách vâng lời Chúa với ḷng tin mạnh mẽ như thánh Phêrô đă làm: “Thưa Thầy, chúng con đă vất vả suốt đêm mà không bắt được ǵ. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Tất cả những độc giả “thiện chí” sẽ hiểu được các động lực thúc đẩy Giáo Hội mau mắn đưa ra học thuyết của ḿnh về phương diện xă hội, một lĩnh vực mà mới thoạt nh́n có vẻ như không thuộc về khả năng chuyên môn của Giáo Hội, và cũng chính những độc giả này sẽ hiểu tại sao Giáo Hội lại mạnh dạn đề cập, mạnh dạn đối thoại và hợp tác để phục vụ công ích.

Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức cố Hồng y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận (1928-2002), với sự khôn ngoan, sự kiên quyết và tầm nh́n xa trông rộng, đă thực hiện phần chuẩn bị phức tạp của tài liệu này; Chứng bệnh hiểm nghèo đă không cho ngài cơ hội hoàn thành phần kết thúc và xuất bản. Công việc trên đă được giao phó cho tôi và hôm nay dành cho tất cả những ai đọc quyển sách này, v́ thế công tŕnh này mang dấu ấn vị chứng nhân vĩ đại của Thập Giá, người đă có niềm tin mănh liệt trong những năm gian khổ của đất nước Việt Nam. Vị chứng nhân này sẽ thấu hiểu ḷng biết ơn của chúng ta đối với sự lao động quư báu, tràn ngập bởi t́nh yêu và sự tận tuỵ của ngài, và ngài sẽ chúc lành cho những ai biết dừng lại để suy tư khi đọc những trang sách này.

Tôi cầu xin lời chuyển cầu của Thánh Giuse, Người Bảo vệ Đấng Cứu Thế và cũng là Người Bạn đời của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, là Thánh Bổn Mạng của Giáo Hội hoàn vũ và của Lao động, để tài liệu này đem đến muôn vàn kết quả trong cuộc sống của xă hội như một công cụ để loan báo Tin Mừng cũng như để xây dựng cho Công lư và Hoà b́nh.

Vatican, ngày 2-4-2004,

Ngày lễ nhớ Thánh Phanxicô Paola
GM.Giampaolo Crepaldi    HY.Renato Raffaele Martino

           Thư kư                                   Chủ tịch

 

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo là công tŕnh tập thể của Uỷ ban Bác ái Xă hội thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhằm giới thiệu cho đồng bào Công giáo và không Công giáo những nguyên tắc nền tảng và đường hướng hoạt động của Giáo hội Công giáo trong lĩnh vực xă hội.

Để đạt được mục đích này, chúng tôi in nội dung cuốn sách thành hai ấn bản. Một ấn bản “Phổ thông” dành cho quảng đại độc giả và một ấn bản tạm gọi là “đầy đủ”, có thêm phần tra cứu, dành cho những độc giả nào muốn tham khảo, đối chiếu chi tiết về nội dung Học thuyết Xă hội Công giáo. Nội dung ấn bản Phổ thông là các phần chính văn gồm Nhập đề và 12 chương sách, kèm thêm 1232 số chú thích của bản gốc Anh ngữ. Ấn bản đầy đủ gồm tất cả nội dung của ấn bản Phổ thông cộng thêm các phần: Mục lục Tham khảo về Thánh Kinh và các Văn kiện như Công đồng Vatican II, các Thông điệp, Tông thư, Tông huấn, Sứ điệp của các giáo hoàng, các Huấn thị của các Bộ, Hội đồng Giáo hoàng và các Văn kiện khác; Mục lục H́nh ảnh và Mục lục Phân tích Chủ đề.

Chúng tôi cũng xin lưu ư rằng cuốn sách này dù đă dài hơn 400 trang nhưng chỉ vẫn là bản tóm lược, nghĩa là mới chỉ nêu lên những điểm chính và quan trọng nhất trong học thuyết xă hội Công giáo, để quư độc giả có một cái nh́n tổng thể chứ chưa phải là bản tŕnh bày đầy đủ toàn bộ học thuyết. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có bộ sách trọn vẹn này.

Cũng v́ mục đích muốn phổ biến cuốn sách cho quảng đại độc giả Việt Nam trong và ngoài Công giáo, cũng như để giúp cho độc giả dễ tiếp thu một bản văn tương đối khô khan và có tính chuyên đề, ngoài việc cố gắng dùng các từ ngữ phổ thông - không quá chuyên môn cũng không quá riêng biệt của Công giáo, ngoại trừ một số từ ngữ chưa có trong cuốn từ điển hiện nay - chúng tôi c̣n đưa vào một số h́nh ảnh minh hoạ, vừa để làm vui mắt độc giả vừa để tạo chất liệu cho các độc giả suy nghĩ thêm theo từng chủ đề. Các h́nh ảnh này đều ghi xuất xứ. Chúng tôi xin cám ơn các tác giả ảnh đă cho phép chúng tôi được sử dụng những h́nh ảnh trong cuốn sách hoàn toàn mang tính xây dựng nhân bản và vô vị lợi này.

Trong quá tŕnh thực hiện cuốn sách, chúng tôi đă nhận được sự giúp đỡ tận t́nh của Thầy Trần Bá Nguyệt và tập thể bè bạn đă chuẩn bị cho phần dịch thuật sơ khởi như: Quư Thầy Lê Mạnh Hà, Nguyễn Văn Khi, Phan Năng Huân, Hà Kim Phước, Nguyễn Hoàng Quy, thuộc Trường Đại học Nông Lâm, TP. HCM, Thầy Phạm Hữu Giáo thuộc trường Đại học Khoa học và Xă hội Nhân Văn, TP. HCM, Thầy Từ Việt Hùng thuộc Trường Đại học Bách Khoa, TP. HCM, Bác sĩ Đỗ Thông, Lm. Trần Đ́nh Long, thuộc ḍng Thánh Thể, Ông Nguyễn Chính Kết, Ông Lê Hùng Sơn và nhiều anh chị em tín hữu trong các ngành chuyên môn. Chúng tôi chân thành cảm tạ sự đóng góp quư báu của tất cả anh chị em cho tập sách này.

Chúng tôi cũng hết ḷng cám ơn Nhà Xuất bản Tôn Giáo, các cơ quan ban ngành đă tận t́nh giúp đỡ và tạo thuận lợi cho chúng tôi xuất bản cuốn sách này. Hành động nhiệt t́nh này nói lên sự cởi mở và quan tâm của những người đang nắm quyền hành của đất nước để cùng cộng tác với mọi người trong việc phục vụ công ích của quốc gia và toàn thể gia đ́nh nhân loại.

Trong quá tŕnh dịch thuật và thực hiện cuốn sách này, chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót ngoài ư muốn. Chúng tôi rất mong quư độc giả thông cảm và tích cực góp ư để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau này.

Sau cùng, xin quư độc giả cùng chúng tôi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa v́ Ngài đă cho chúng ta được gặp gỡ nhau và gặp gỡ Ngài qua cuốn sách này. Kính chúc quư độc giả an mạnh và tràn đầy ơn Chúa để chúng ta cùng nhau xây dựng một nền văn hoá sự sống và một nền văn minh t́nh yêu cho xă hội loài người.

Thay mặt Ban Dịch thuật và Thực hiện
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn



BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

 

 

a                      in articulo
AAS                Acta Apostolicae Sedis (Văn kiện Tông Toà) từ năm 1909
                        trở đi.
ASS                 Acta Sanctae Sedis (Văn kiện Toà Thánh) từ năm 1865-
                        1908
C                     Corpore articuli
CĐ                  Công Đồng
Ch                   Chương
DS                   H. Denzinger-A.Schonmetzer. Enchiridion Symbolorum
                        definitionum et declarationum de rebus fidei et morum –
                        Sách chỉ nam các tín điều, tuyên ngôn về đức tin và luân
                        lư.
Ed                   Edita
Ibid.                Ibidem (như trên)
I                      Prima Pars Summae Theologiae Bộ Tổng luận Thần học,
                        quyển I
I-II                   Prima Secundae Partis Summae Theologiae Bộ Tổng luận
                        Thần học, Phần I của quyển II
II-II                  Secunda Secundae Partis Summae Theologiae Bộ Tổng
                        luận Thần học, Phần II của quyển II
III                    Tertia Pars Summae Theologiae Bộ Tổng luận Thần học,
                        quyển III
PG                   Patrologia Graeca (Giáo phụ Hy Lạp) (J.P. Migne)
PL                   Patrologia Latina (Giáo phụ Latinh) (J.P. Migne)
q                      quaestio
r                       trang
tt                      tiếp theo
x.                     xem


KƯ HIỆU CÁC SÁCH THÁNH KINH

THEO THỨ TỰ CHỮ CÁI

NHẬP ĐỀ

MỘT NỀN NHÂN BẢN

TOÀN DIỆN VÀ LIÊN ĐỚI

a. Vào lúc khai nguyên Thiên Niên Kỷ Thứ Ba

1. Giáo Hội tiến vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba của kỷ nguyên Kitô giáo như một đoàn dân lữ hành, dưới sự hướng dẫn của Đức Kitô, vị “Mục Tử cao cả” (Dt 13,20). Người là “Cửa Thánh” (x. Ga 10,9) mà chúng ta đă bước qua trong Năm Toàn Xá 20001. Đức Giêsu Kitô chính là con đường, là sự thật và là sự sống (x. Ga 14,6): khi nh́n ngắm dung nhan Người, chúng ta càng thêm tin tưởng và hy vọng nơi Người, Vị Cứu Tinh duy nhất và cũng là mục tiêu duy nhất của lịch sử.

Giáo Hội tiếp tục ngỏ lời với mọi dân tộc và mọi quốc gia, v́ ơn cứu độ chỉ được ban cho con người nhân danh Đức Kitô. Sự cứu độ, mà Chúa Giêsu đă phải trả “bằng một giá đắt” (1 Cr 6,20; x. 1 Pr 1,18-19), được hoàn thành trong sự sống mới đang chờ trao cho người công chính sau khi họ chết. Nhưng sự cứu độ ấy cũng đang thâm nhập vào thế giới này qua các thực tại của kinh tế và lao động, công nghệ và truyền thông, xă hội và chính trị, cộng đồng quốc tế và các mối quan hệ giữa các nền văn hoá và giữa các dân tộc. “Đức Giêsu đến để mang ơn cứu độ toàn diện – một sự cứu độ bao trùm lên mỗi con người và toàn thể nhân loại, đồng thời mở ra một triển vọng rất kỳ diệu, là mọi người được nhận làm con Thiên Chúa”2.

2. Vào lúc khai nguyên Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, Giáo Hội không mệt mỏi để công bố Tin Mừng mang ơn cứu độ và sự tự do đích thực đến cho các thực tại trần thế. Giáo Hội nhớ lời thánh Phaolô nói với môn đệ Timôthê của ḿnh: “Hăy rao giảng Lời Chúa, hăy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hăy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả ḷng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không c̣n chịu nghe giáo lư lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của ḿnh mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lư, nhưng hướng về những chuyện hoang đường. Phần anh, hăy thận trọng trong mọi sự, hăy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2 Tm 4,2-5).

3. Giáo Hội cũng cống hiến học thuyết xă hội của ḿnh cho những người bạn đồng hành với ḿnh, là mọi người hôm nay. Thật vậy, khi Giáo Hội “chu toàn sứ mạng công bố Tin Mừng là Giáo Hội làm chứng cho con người, nhân danh Đức Kitô: làm chứng cho phẩm giá của con người, cho ơn gọi sống hiệp thông giữa mọi người với nhau. Giáo Hội dạy cho con người biết các đ̣i hỏi của công lư và hoà b́nh phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa”3. Học thuyết này có một mối thống nhất rất sâu xa, bắt nguồn từ Niềm Tin vào một ơn cứu độ toàn diện và trọn vẹn, từ niềm Hy Vọng vào sự sung măn của công lư và từ T́nh Yêu sẽ làm cho mọi người trở thành anh chị em với nhau trong Đức Kitô: đó cũng chính là dấu biểu hiện t́nh thương Thiên Chúa dành cho thế giới, một thế giới đă được Ngài yêu thương tới mức “ban tặng cả Con Một của ḿnh” (Ga 3,16). Luật yêu thương mới mẻ này bao trùm lên cả gia đ́nh nhân loại và là luật không có giới hạn, v́ ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện được công bố rộng răi “tới tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

4. Khi khám phá ra ḿnh được Thiên Chúa yêu thương, người ta mới hiểu được phẩm giá siêu việt của ḿnh, biết như thế không phải để ḿnh hài ḷng với ḿnh mà c̣n để đến gặp người khác qua một mạng lưới quan hệ ngày càng nhân bản hơn. Những người đă được t́nh thương Thiên Chúa “đổi mới” có thể thay đổi các luật lệ và chất lượng của các mối quan hệ, thậm chí chuyển biến cả các cấu trúc xă hội. Họ trở thành người có khả năng đem hoà b́nh đến nơi xung đột, gầy dựng và nuôi dưỡng các mối tương quan huynh đệ ở nơi có hận thù, đi t́m công lư ở nơi c̣n đầy cảnh người bóc lột người. Chỉ có t́nh thương mới có khả năng thay đổi tận gốc những mối quan hệ đang có giữa con người với nhau. Đây chính là viễn cảnh giúp mọi người thiện chí thấy được những chân trời công lư rộng mở, và con người phát triển trong sự thật và sự thiện hảo.  

5. T́nh yêu hướng đến một phạm vi hoạt động rộng lớn và Giáo Hội hăng hái đóng góp vào đấy qua học thuyết xă hội của ḿnh, một học thuyết quan tâm đến con người toàn diện và được gửi tới cho hết mọi người. Biết bao anh chị em nghèo đói đang cần giúp đỡ, biết bao người bị áp bức đang chờ công lư, biết bao người thất nghiệp đang cần công ăn việc làm, biết bao người đang mong được tôn trọng. “Làm sao đến ngày hôm nay vẫn c̣n người phải chết đói, phải mù chữ, thiếu sự chăm sóc y tế tối thiểu, và không có nhà che nắng che mưa? Chúng ta không bao giờ liệt kê hết danh sách những người nghèo túng, v́ ngoài những h́nh thức nghèo túng quen thuộc trên đây c̣n thấy xuất hiện những dạng nghèo túng mới. Những dạng nghèo túng mới này thường tác động tới cả những bộ phận dân chúng và những tập thể dồi dào tài chính, nhưng có nguy cơ thất vọng v́ không t́m được ư nghĩa cho cuộc đời, v́ nghiện ngập ma tuư, v́ lo sợ bị bỏ rơi khi về già hay khi đau ốm, v́ bị gạt ra bên lề xă hội hay bị kỳ thị trong xă hội… Và làm sao chúng ta có thể hờ hững trước viễn cảnh về môi trường sinh thái bị khủng hoảng, đang biến những khu vực rộng lớn của hành tinh chúng ta không c̣n người ở hay trở nên rất khắc nghiệt đối với con người? Hoặc hờ hững đối với vấn đề hoà b́nh trước cảnh con người lúc nào cũng bị các cuộc chiến tàn khốc đe doạ? Hoặc hờ hững trước nguy cơ coi thường các quyền căn bản của rất nhiều người, đặc biệt là trẻ em?”4.

6. T́nh yêu Kitô giáo sẽ đưa chúng ta tới chỗ tố cáo, đề nghị và dấn thân vào những dự án văn hoá và xă hội; t́nh yêu này thúc đẩy sự hoạt động tích cực để tất cả những ai thành thật coi trọng ích lợi của con người đều muốn góp phần của ḿnh. Nhân loại sẽ hiểu rơ hơn bao giờ hết rằng mọi người đều được liên kết với nhau bởi một vận mệnh duy nhất nên phải cùng nhau gánh lấy trách nhiệm, một trách nhiệm được thôi thúc bởi một nền nhân bản toàn diện và liên đới. Nhân loại thấy rằng, vận mệnh duy nhất này thường bị lệ thuộc, thậm chí bị áp đặt, bởi các tác nhân kinh tế và công nghệ, và cảm thấy cần phải có những nhận thức luân lư sâu xa hơn th́ mới hướng dẫn được hành tŕnh chung của nhân loại. Ngạc nhiên trước rất nhiều phát minh thuộc lĩnh vực công nghệ, con người hôm nay hết sức ao ước cho mọi tiến bộ đều được quy hướng về ích lợi thật của nhân loại, hôm nay lẫn ngày mai.

b. Ư nghĩa của tài liệu này

7. Người Kitô hữu biết rằng họ có thể t́m thấy trong học thuyết xă hội của Giáo Hội những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những chỉ dẫn để hành động. Đó là bước đầu để đẩy mạnh nền nhân bản toàn diện và liên đới. Bởi thế, việc phổ biến cho mọi người biết học thuyết này đúng là một công tác mục vụ ưu tiên, nhờ đó mọi người sẽ được học thuyết này soi sáng, hầu có thể giải thích các thực trạng hiện nay và t́m ra những hướng hành động thích hợp: “Giảng dạy và phổ biến học thuyết xă hội là một phần trong sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội”5.

Nh́n trong ánh sáng ấy, việc phát hành tập tài liệu chứa đựng các yếu tố căn bản của học thuyết xă hội Công giáo cho thấy mối tương quan giữa học thuyết này và công cuộc tân Phúc Âm hoá6 quả là một việc làm hết sức bổ ích. Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh, khi đứng ra soạn thảo tài liệu này và chịu trách nhiệm về nội dung của tài liệu, đă tiến hành công việc bằng cách tham khảo rộng răi các thành viên và các vị cố vấn của Hội đồng, cũng như các thánh bộ khác của giáo triều Roma, các hội đồng giám mục các nước, các cá nhân giám mục và các chuyên viên liên quan đến những vấn đề được đề cập đến trong tài liệu.

8. Tập tài liệu này muốn giới thiệu một cách đầy đủ và hệ thống, dù chỉ là lược qua, học thuyết xă hội của Giáo Hội. Đây là kết quả suy tư thận trọng của Huấn Quyền và là biểu hiện sự dấn thân bền bỉ của Giáo Hội muốn trung thành với ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại và muốn quan tâm lo lắng cho vận mệnh của nhân loại. Thế nên, tất cả những suy tư sâu sắc nhất về thần học, triết học, luân lư, văn hoá và mục vụ trong học thuyết này đều được giới thiệu một cách hệ thống, khi chúng liên quan đến các vấn đề xă hội. Bằng cách đó, chúng ta minh chứng cho mọi người thấy sẽ rất có kết quả khi để cho các vấn đề mà loài người đang phải đối mặt trong cuộc hành tŕnh của ḿnh qua ḍng lịch sử được tiếp cận Tin Mừng. Khi học hỏi tập tài liệu toát yếu này, cần nhớ rằng các bản văn trích dẫn của Huấn Quyền, được lấy ra từ các văn kiện thuộc nhiều thẩm quyền khác nhau. Bên cạnh các văn kiện của công đồng và các thông điệp c̣n có các bài diễn văn của đức giáo hoàng và các tài liệu do các bộ của Toà Thánh soạn thảo. Và như chúng ta đă biết, nhưng cũng cần nhắc lại, độc giả nên lưu ư mỗi tài liệu có thẩm quyền giáo huấn khác nhau. Tập tài liệu này chỉ muốn đưa ra các yếu tố căn bản của học thuyết xă hội Công giáo, và để các hội đồng giám mục tuỳ theo t́nh h́nh địa phương mà đưa ra những áp dụng thích hợp7.

9. Tập tài liệu này cho chúng ta có một cái nh́n tổng lược nhưng đầy đủ về bố cục cơ bản của toàn bộ giáo huấn xă hội Công giáo. Nhờ cái nh́n tổng lược ấy, chúng ta có thể tiếp cận các vấn đề xă hội hiện nay một cách thích đáng, nhưng phải nh́n các vấn đề ấy như một tổng thể thống nhất v́ đặc điểm của các vấn đề ấy hiện nay là càng ngày chúng càng có liên hệ với nhau, ảnh hưởng đến nhau và càng ngày càng trở thành mối quan tâm của toàn thể gia đ́nh nhân loại. Tập tài liệu tŕnh bày giáo huấn xă hội của Giáo Hội này muốn giới thiệu một cách tiếp cận có hệ thống để t́m ra giải pháp cho các vấn đề, hầu mọi phân định, phán đoán và quyết định của chúng ta đều phù hợp với thực tế, cũng như sự liên đới và hy vọng của chúng ta sẽ có tác dụng lớn hơn trên các t́nh thế phức tạp hiện nay. Thật vậy, các nguyên tắc trong học thuyết xă hội Công giáo đều có liên quan với nhau, nguyên tắc này soi sáng cho nguyên tắc kia, bao lâu chúng c̣n phản ánh quan điểm Kitô giáo về nhân học8, và cũng là những kết quả rút ra được từ mạc khải của Thiên Chúa về t́nh yêu của Ngài đối với con người. Tuy nhiên, không được quên rằng thời gian trôi qua và các hoàn cảnh xă hội đổi thay buộc chúng ta phải cập nhật liên tục các suy tư của chúng ta về các vấn đề được nêu ra ở đây, để chúng ta có thể giải thích đúng đắn các dấu chỉ mới của thời đại.

10Tập tài liệu này được coi là một công cụ giúp chúng ta phân định về mặt luân lư và mục vụ các biến cố phức tạp đang ghi dấu trên thời đại hôm nay; cũng có thể coi tập tài liệu này như một kim chỉ nam giúp cá nhân cũng như tập thể có những thái độ và lựa chọn để mọi người có thể nh́n về tương lai một cách tin tưởng và hy vọng nhiều hơn; cũng có thể coi tập tài liệu này như một sự hỗ trợ người tín hữu muốn hiểu biết giáo huấn của Giáo Hội về luân lư xă hội. Từ đó, có thể đưa ra những đối sách mới đáp ứng các yêu cầu của thời đại, bắt kịp các nhu cầu và các năng lực của con người. Nhưng trên hết, tập tài liệu này c̣n muốn tạo nên động lực thúc đẩy việc khám phá lại ơn gọi của các đoàn sủng khác nhau trong Giáo Hội, nhằm phục vụ công cuộc Phúc Âm hoá trật tự xă hội, v́ “mọi thành phần trong Giáo Hội đều tham dự vào chiều kích trần thế này”9. Tóm lại, tập tài liệu này nhằm mục đích thúc đẩy cuộc đối thoại với bất cứ ai chân thành mong muốn điều tốt đẹp cho nhân loại.

11. Tập tài liệu nhắm trước tiên đến các giám mục, là những vị sẽ quyết định dùng những phương pháp nào thích hợp nhất để phổ biến và giải thích tài liệu một cách đúng đắn. Thật vậy, trong nhiệm vụ giảng dạy (munus docendi), các giám mục có bổn phận phải dạy rằng “các thực tại trần thế và các tổ chức nhân loại đă được sắp đặt để cứu độ con người, theo như kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hoá, và v́ thế, tất cả các thực tại và các tổ chức ấy có thể đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô”10. Các linh mục, các nam nữ tu sĩ, và nói chung, tất cả những người có trách nhiệm đào tạo đều sẽ t́m thấy ở đây kim chỉ nam cho công tác giảng dạy và công cụ cho việc làm mục vụ của ḿnh. Các tín hữu giáo dân – những người t́m kiếm Nước Trời “bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và hướng dẫn chúng theo ư muốn của Thiên Chúa”11 – sẽ t́m ra trong tập tài liệu này ánh sáng giúp ḿnh thấy rơ sứ mạng riêng biệt của ḿnh. Các cộng đồng Kitô hữu cũng có thể dựa vào tập tài liệu này để phân tích các hoàn cảnh cách khách quan, làm sáng tỏ các hoàn cảnh ấy dựa vào những lời bất di bất dịch của Tin Mừng, hay rút ra những nguyên tắc để suy nghĩ, những tiêu chuẩn để phê phán và những đường hướng để hành động12.

12. Tập tài liệu này cũng được gửi tới anh chị em thuộc các Giáo hội và các Cộng đồng Giáo hội khác, gửi tới các tín đồ của các tôn giáo, cũng như tất cả những người thiện chí đang dấn thân phục vụ công ích: ước chi họ tiếp nhận tập tài liệu này như kết quả của một kinh nghiệm phổ quát của con người, được ghi dấu bằng vô số các dấu hiệu cho biết Thánh Thần Thiên Chúa đang hiện diện. Đó là một kho tàng gồm cả điều cũ lẫn điều mới (x. Mt 13,52) mà Giáo Hội muốn san sẻ trong tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa, v́ từ nơi Thiên Chúa sẽ tuôn đổ “mọi ơn lành và mọi phúc lộc tuyệt hảo” (Gc 1,17). Quả là một dấu hiệu đáng hy vọng khi các tôn giáo và các nền văn hoá hiện nay tỏ ra rất sẵn sàng đối thoại và đang cảm thấy nhu cầu cấp bách phải hợp lực để đẩy mạnh công lư, t́nh huynh đệ, hoà b́nh và sự phát triển của con người.

Giáo hội Công giáo liên kết nỗ lực của ḿnh với nỗ lực của các Giáo hội và Cộng đồng Giáo hội khác trong lĩnh vực xă hội, bất kể về mặt lư thuyết hay về mặt thực hành. Cùng với họ, Giáo hội Công giáo tin rằng người ta có thể rút tỉa từ kho tàng chung là các giáo huấn xă hội, đă được truyền thống sống động của dân Chúa lưu giữ, những động lực và những định hướng giúp mọi người cộng tác với nhau chặt chẽ hơn để xúc tiến công lư và hoà b́nh13.

c. Để phục vụ sự thật toàn vẹn về con người

13. Tập tài liệu này là một cách Giáo Hội phục vụ con người trong thời đại hôm nay; Giáo Hội để lại cho họ di sản là học thuyết xă hội của ḿnh, cũng theo phương cách đối thoại mà chính Thiên Chúa đă làm khi “ngỏ lời với mọi người như với bạn hữu ḿnh (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15) và đi lại giữa mọi người” (x. Br 3,38), qua Con Một đă làm người của ḿnh”14. Cảm hứng từ Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, tập tài liệu này cũng lấy “con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, với t́nh cảm và lương tâm, với lư trí và ư chí”15 làm then chốt cho toàn thể phần tŕnh bày của ḿnh. Trong viễn cảnh ấy, Giáo Hội “không v́ một tham vọng trần thế nào, chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất là xúc tiến công việc của Đức Kitô dưới sự hướng dẫn thân t́nh của Chúa Thánh Thần. V́ Đức Kitô đă đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, để cứu độ chứ không phải để lên án, để phục vụ chứ không để được người ta phục vụ”16.

14. Thông qua tập tài liệu này, Giáo Hội muốn đóng góp phần sự thật của ḿnh để trả lời cho vấn đề con người chiếm vị trí nào trong thiên nhiên và trong xă hội con người, một vấn đề mà các nền văn minh và văn hoá đang phải đối mặt khi chúng biểu hiện cho sự khôn ngoan của con người. Bắt nguồn từ một quá khứ đă có hàng ngàn năm và được biểu hiện qua những h́nh thức như tôn giáo, triết học và thi ca, theo từng thời đại và từng dân tộc, các nền văn minh và văn hoá ấy đưa ra cách lư giải riêng của ḿnh về vũ trụ và xă hội con người, cũng t́m cách hiểu thế nào là hiện hữu và mầu nhiệm hiện hữu. Tôi là ai? Tại sao lại có đau khổ, sự dữ, chết chóc bất chấp mọi tiến bộ đă thực hiện được? Những thành quả con người đă đạt được có c̣n giá trị ǵ, khi con người phải trả một cái giá đắt tới mức không thể chịu nổi? C̣n ǵ nữa sau cuộc đời này? Đó là những vấn nạn căn bản luôn xuất hiện trong cuộc đời con người17. Về điểm này, chúng ta có thể nhớ lại lời nhắn nhủ “Hăy tự biết lấy ḿnh”, được khắc trên cổng đền ở Delphi, lời đó xác nhận một sự thật căn bản là con người được mời gọi tách riêng ra khỏi các thụ tạo khác, con người chỉ thật sự là con người do tự bản chất con người luôn hướng tới việc t́m biết chính ḿnh.

15. Đời sống con người, xă hội và lịch sử sẽ đi theo hướng nào tuỳ thuộc rất nhiều vào những câu trả lời mà chúng ta t́m được cho những câu hỏi về vị trí của con người trong thiên nhiên và xă hội. Mục đích của tập tài liệu này cũng là để góp phần đưa ra những câu trả lời ấy. Thật vậy, ư nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống con người được lộ ra khi con người tự do t́m kiếm sự thật nào có thể định hướng và đem lại sự sung măn cho cuộc sống. Những vấn nạn đă nhắc tới trên đây là những vấn nạn không ngừng thu hút lư trí và ư muốn của con người dấn thân vào công cuộc t́m kiếm ấy. Những vấn nạn ấy cũng chính là sự biểu hiện cao cả nhất của bản tính con người, v́ chúng đ̣i con người phải đáp trả sâu xa tới mức bắt mỗi cá nhân phải dấn thân bằng cả cuộc sống của ḿnh. Ngoài ra, ở đây, chúng ta cũng đụng phải những vấn đề chủ yếu mang tính tôn giáo: “Khi tra cứu ‘nguyên nhân của sự vật’, đồng thời muốn t́m kiếm câu trả lời cuối cùng và trọn vẹn nhất, lư trí con người sẽ đi tới tột đỉnh và mở ra với thế giới của tôn giáo… Tính tôn giáo chính là biểu hiện thanh cao nhất của con người v́ đó chính là cao điểm của một bản tính có lư trí. Tính tôn giáo xuất phát từ khát vọng sâu xa của con người - khát vọng t́m kiếm sự thật - nhưng tính tôn giáo cũng là nền tảng cho việc t́m kiếm thế giới thần linh cách tự do và riêng tư”18.

16. Những vấn đề căn bản đi theo con người trong suốt cuộc hành tŕnh ngay từ lúc khởi đầu đến nay c̣n mang nhiều ư nghĩa hơn nữa, v́ thời đại chúng ta ngày nay phải đương đầu với những thách đố lớn lao, các t́nh huống mới mẻ và các quyết định quan trọng khi đối diện với các thế hệ mới.

Thách đố đầu tiên trong những thách đố lớn lao đang đặt ra cho con người hôm nay là chính sự thật về hữu thể được gọi là con người. Ranh giới và tương quan giữa thiên nhiên, công nghệ và luân lư là những vấn đề buộc cá nhân và tập thể phải chịu trách nhiệm về thái độ của ḿnh đối với câu trả lời: con người là ǵ, con người có thể làm được những ǵ và con người phải như thế nào? Thách đố thứ hai là làm sao hiểu được và xử lư sự đa nguyên và sự khác biệt ở mọi cấp độ: đa nguyên và khác nhau trong các cách suy nghĩ, trong các lựa chọn luân lư, trong văn hoá, trong sự liên kết tôn giáo, trong triết lư về sự phát triển con người và xă hội. Thách đố thứ ba là việc toàn cầu hoá, một sự kiện có ư nghĩa rộng lớn và sâu xa hơn nhiều chứ không chỉ đơn giản là kinh tế được toàn cầu hoá, v́ lịch sử đang chứng kiến một kỷ nguyên mới vừa khai mạc, có liên quan đến vận mệnh của loài người.

17. Các môn đệ của Đức Giêsu Kitô cảm thấy ḿnh cũng đang bị cuốn hút vào những vấn nạn ấy; họ cũng cưu mang những vấn nạn ấy trong tâm hồn và cũng muốn cùng với mọi người dấn thân t́m kiếm sự thật và ư nghĩa của cuộc đời – để sống cuộc đời ấy như những cá nhân và như thành phần của xă hội. Các môn đệ của Đức Giêsu Kitô góp phần vào công cuộc t́m kiếm ấy bằng cách quảng đại làm chứng cho ân huệ đặc biệt mà Thiên Chúa đă tặng không cho loài người: đó là Thiên Chúa đă nói Lời của Ngài cho con người suốt ḍng lịch sử; bản thân Ngài đă bước vào lịch sử để đối thoại với loài người và để mạc khải cho loài người biết kế hoạch cứu độ, sự công bằng và t́nh huynh đệ. Trong Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Chúa đă giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và chỉ cho chúng ta thấy con đường ḿnh phải đi và đích điểm ḿnh phải phấn đấu đạt tới.

d. Trong dấu hiệu của liên đới, tôn trọng và yêu thương

18. Giáo Hội lữ hành qua các nẻo đường lịch sử cùng với toàn thể nhân loại. Giáo Hội sống trong thế giới, và dù không thuộc về thế giới (x. Ga 17,14-16), Giáo Hội cũng được mời gọi phục vụ thế giới theo ơn gọi sâu xa của ḿnh. Thái độ này, cũng được nhắc đến trong tập tài liệu đây, là thái độ được xây dựng trên sự xác tín rằng: việc thế giới nh́n nhận Giáo Hội như một thực tế lịch sử và như chất men trong lịch sử quan trọng thế nào đối với thế giới th́ việc Giáo Hội nhận ra những ǵ Giáo Hội thu được từ lịch sử và từ công cuộc phát triển của nhân loại cũng quan trọng như thế đối với Giáo Hội19. Công đồng Vatican II đă chứng minh một cách hùng hồn về sự liên đới, tôn trọng và ưu ái của ḿnh đối với toàn thể gia đ́nh nhân loại bằng cách tham gia đối thoại với nhân loại về nhiều vấn đề, “đem lại ánh sáng được thắp lên từ Tin Mừng và trao phó cho loài người những nguồn mạch cứu độ mà Giáo Hội đă nhận được từ tay Đấng Sáng Lập, dưới sự thôi thúc của Thánh Thần. Chính con người mới là đối tượng cần được cứu độ, chính xă hội con người mới là đối tượng cần được đổi mới”20.

19. Là dấu chỉ trong lịch sử về t́nh thương của Thiên Chúa đối với con người và về ơn gọi của toàn thể nhân loại, hướng đến sự hợp nhất với nhau như con cái cùng một Cha21, Giáo Hội mong muốn qua tập tài liệu về học thuyết xă hội này đề nghị với mọi người một nền nhân bản phù hợp với những tiêu chuẩn trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa trong lịch sử, một nền nhân bản toàn diện và liên đới có thể tạo ra một trật tự xă hội, kinh tế và chính trị mới, đặt nền tảng trên phẩm giá và tự do của mỗi con người; trật tự ấy phải được khai sinh trong hoà b́nh, công lư và liên đới. Nền nhân bản này có thể trở thành sự thật nếu mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng biết vun trồng các đức tính luân lư và xă hội nơi bản thân ḿnh và phổ biến chúng trong xă hội. “Như vậy, với sự trợ giúp cần thiết của ân huệ Chúa, một thế hệ mới gồm những con người mới sẽ được khai sinh, làm khuôn mẫu cho một nhân loại mới”22.

PHẦN MỘT

“Cần phải lấy chiều hướng thần học để vừa giải thích vừa giải quyết các vấn đề hiện nay trong xă hội loài người”.

 (Centesimus Annus, 55)

CHƯƠNG MỘT

KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG

CỦA THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI

I. HOẠT ĐỘNG GIẢI PHÓNG CỦA THIÊN CHÚA TRONG LỊCH SỬ DÂN ISRAEL

a. Sự hiện diện vô điều kiện của Thiên Chúa

20. Trong mọi truyền thống văn hoá, bất cứ kinh nghiệm tôn giáo chân chính nào cũng đều dẫn người ta tới chỗ linh cảm một huyền nhiệm nào đó, và huyền nhiệm này thường giúp chúng ta nhận ra một vài nét trong dung mạo Thiên Chúa. Một đàng, Thiên Chúa được coi là nguồn gốc của mọi sự đang hiện hữu, là sự hiện diện bảo đảm cho con người có được những điều kiện sống căn bản để tổ chức thành một xă hội, trao vào tay con người những phương thế cần thiết. Đàng khác, Thiên Chúa xuất hiện như chuẩn mực cho biết mọi sự phải thế nào, như sự hiện diện luôn thách thức các hoạt động của con người – cả trên b́nh diện cá nhân lẫn xă hội – liên quan đến việc sử dụng các phương thế ấy trong mối tương quan với người khác. Thế nên, trong bất cứ kinh nghiệm tôn giáo nào, người ta cũng phải hết sức chú ư tới chiều hướng ban tặng và cho không, được coi là yếu tố nằm bên dưới mọi kinh nghiệm con người có về cuộc sống của ḿnh cùng với người khác trong thế giới, cũng như phải hết sức chú ư tới những âm hưởng của chiều hướng này trên lương tâm con người, khiến con người cảm thấy ḿnh được kêu gọi để quản lư quà tặng đă nhận được với tinh thần trách nhiệm và cùng với người khác. Bằng chứng cho sự kiện này là ai ai cũng nhận ra một quy luật vàng, cho biết đâu là điều Đấng Huyền Nhiệm muốn dạy con người trong quan hệ với nhau: “Bất cứ điều ǵ anh em muốn người khác làm cho ḿnh th́ chính anh em hăy làm cho họ” (Mt 7,12)23.     

21. Trên kinh nghiệm tôn giáo phổ quát nền tảng ấy, được mỗi người cảm nhận mỗi khác, chúng ta thấy nổi rơ sự mạc khải tiệm tiến của Thiên Chúa về bản thân ḿnh cho dân Israel. Mạc khải này đáp ứng nỗi khao khát của con người đi t́m kiếm Chúa, và đáp ứng một cách hết sức bất ngờ theo cung cách của lịch sử – tức là vừa gây ấn tượng vừa thâm nhập sâu xa – qua đó Thiên Chúa cho con người thấy t́nh thương của Ngài cách cụ thể. Theo sách Xuất Hành, Thiên Chúa nói với Môsê như sau: “Ta đă thấy nỗi khốn khổ của dân Ta bên Ai Cập, Ta đă nghe thấy tiếng kêu la của chúng v́ các tay đốc công; Ta biết những đau khổ của chúng, và Ta sẽ xuống để giải thoát chúng khỏi tay những người Ai Cập, đưa chúng ra khỏi đất ấy để tới miền đất tốt tươi và rộng răi, miền đất chảy sữa và mật ong” (Xh 3,7-8). Sự hiện diện hoàn toàn vô vị lợi của Thiên Chúa – một điều được ám chỉ qua cái tên của Ngài như Ngài đă mạc khải cho Môsê, “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3,14) – được biểu lộ qua việc Ngài giải phóng họ khỏi ách nô lệ và qua những lời Ngài hứa. Những việc này đă trở thành những hành động lịch sử, là nguyên nhân đưa tới cách thế mà dân Chúa tự xác định ḿnh, khi nhận được sự tự do và miền đất Chúa ban tặng.

22. Hành động tặng không mà Thiên Chúa đă thực hiện hết sức hiệu quả trong lịch sử ấy luôn có kèm theo việc cam kết thực thi giao ước, do Thiên Chúa đề nghị và được dân Israel chấp nhận. Trên núi Sinai, sáng kiến của Thiên Chúa đă trở thành cụ thể qua giao ước của Ngài với dân Ngài, và kèm theo đó là Mười Điều Răn do Chúa mạc khải (x. Xh 19-24). “Mười Điều Răn” ấy (Xh 34,28; x. Đnl 4,13; 10,4) “diễn tả nội dung bao hàm những việc thuộc về Chúa khi kư kết giao ước. Sống có luân lư chính là một cách đáp trả sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa. Đó chính là sự tri ân và tôn kính dành cho Thiên Chúa, đồng thời là sự thờ phượng trong tâm t́nh biết ơn. Đó cũng là cộng tác vào kế hoạch mà Thiên Chúa đang theo đuổi trong ḍng lịch sử”24.

Mười Điều Răn tạo nên một con đường sống đặc biệt và an toàn nhất để được tự do khỏi bị nô lệ tội lỗi - cũng là một cách diễn đạt đặc biệt của luật tự nhiên. Mười Điều Răn “dạy chúng ta biết thế nào là làm người thật sự. Chúng chỉ cho chúng ta thấy những nghĩa vụ thiết yếu, và do đó, một cách gián tiếp, chúng cho chúng ta thấy những quyền căn bản nằm trong bản tính con người”25. Chúng mô tả cho chúng ta biết luân lư chung của con người là ǵ. Trong Tin Mừng, chính Đức Giêsu đă nhắc nhở chàng thanh niên giàu có rằng Mười Điều Răn (x. Mt 19,18) “chính là những quy luật thiết yếu cho mọi đời sống xă hội”26.

23. Từ Mười Điều Răn ấy, chúng ta thấy ḿnh phải cam kết không những trung thành với một Thiên Chúa chân thật duy nhất, mà c̣n phải có những mối quan hệ xă hội thế nào giữa dân giao ước với nhau. Đặc biệt những mối quan hệ này được quy định bởi điều được gọi là quyền của người nghèo: “Nếu người nào trong các ngươi nghèo, một người trong anh chị em các ngươi…, các ngươi không được đóng ḷng hay khoá tay lại, mà phải mở rộng tay với người ấy và cho người ấy vay đủ cái người ấy cần” (Đnl 15,7-8). Những điều này cũng áp dụng cho cả người ngoại quốc: “Khi có người ngoại quốc cư ngụ với các ngươi trên đất các ngươi, các ngươi không được làm hại người ấy. Người ngoại quốc cư ngụ với các ngươi cũng được coi như người bản xứ như các ngươi, các ngươi sẽ yêu thương người ấy như chính ḿnh; v́ các ngươi cũng đă từng là người ngoại quốc trên đất Ai Cập. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,33-34). Như thế, việc ban tự do và Đất Hứa, ban Giao Ước trên núi Sinai và Mười Điều Răn, tất cả những ân huệ ấy đều được gắn liền với những bổn phận sẽ chi phối quá tŕnh phát triển xă hội Israel, trong công bằng và liên đới.

24. Trong số nhiều chuẩn mực diễn tả cách cụ thể sự cho không của Thiên Chúa và việc chia sẻ sự công bằng như Chúa đă thôi thúc, luật Năm Sabat (cứ bảy năm một lần) và luật Năm Toàn Xá (cứ năm mươi năm một lần)27 được coi là những chỉ dẫn quan trọng cho đời sống xă hội và kinh tế của dân Israel – dù rất tiếc chúng không bao giờ được thực hiện cách hoàn toàn hữu hiệu trong lịch sử. Không kể việc yêu cầu để ruộng đồng nghỉ ngơi, luật c̣n đ̣i người Israel xoá hết nợ nần và tha bổng cho cả người lẫn của cải: ai nấy được tự do trở về nguyên quán của ḿnh và lấy lại những tài sản đă được thừa kế một cách tự nhiên.   

Luật này nhằm bảo đảm cho thấy biến cố cứu độ Xuất Hành khỏi Ai Cập và việc trung thành với Giao Ước không chỉ là nguyên tắc làm nền cho đời sống xă hội, chính trị và kinh tế, mà c̣n là nguyên tắc hướng dẫn giải quyết các vấn đề liên quan tới sự nghèo đói về kinh tế và các bất công xă hội. Nguyên tắc này thường được viện đến mỗi khi người ta muốn canh tân đời sống của dân Giao Ước, từ bên trong và liên tục, hầu làm cho đời sống của họ phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa. Để loại trừ sự kỳ thị và những bất b́nh đẳng về kinh tế do những sự thay đổi trong kinh tế và xă hội gây ra, cứ bảy năm, người ta nhớ lại biến cố Xuất Hành và Giao Ước bằng những hành vi xă hội và pháp lư, nhằm trả lại ư nghĩa sâu xa nhất cho những khái niệm về nghèo đói, nợ nần, vay mượn và của cải.

25. Các luật cử hành Năm Sabat và Năm Toàn Xá chính là một h́nh thức “học thuyết xă hội” thu nhỏ28. Chúng cho thấy các nguyên tắc của công lư và liên đới xă hội đă được cảm hứng thế nào từ hành vi cứu độ vô vị lợi của Thiên Chúa. Chúng không chỉ có giá trị sửa chữa những tập tục bị chi phối bởi các quyền lợi và mục tiêu ích kỷ, mà c̣n như một lời tiên tri cho tương lai, chúng đă trở thành những điểm tham khảo mang tính quy phạm mà mỗi thế hệ Israel phải tuân thủ nếu muốn trung thành với Thiên Chúa của ḿnh.

Những nguyên tắc này cũng trở thành tiêu điểm cho các ngôn sứ nhắm tới khi giảng dạy, bằng cách giúp người ta đưa chúng vào nội tâm. Theo lời dạy của các ngôn sứ, Thần Khí Thiên Chúa, được đổ vào tâm hồn con người, sẽ làm cho những t́nh cảm về công lư và liên đới ấy, từng hiện diện trong tâm hồn Đức Chúa, bám rễ trong ḷng mọi người (x. Gr 31,33 và Ez 36,26-27). Lúc ấy, ư muốn của Thiên Chúa – được diễn tả trong Mười Điều Răn mà Ngài đă ban cho họ trên núi Sinai – sẽ bám rễ trong nơi sâu xa nhất của con người. Nhờ tiến tŕnh nội tâm hoá này mà các hành vi xă hội của con người có được chiều sâu và được hiện thực nhiều hơn, có thể làm cho các thái độ đối với công lư và liên đới dần dần trở thành những thái độ phổ quát, mà dân Giao Ước được mời gọi thi hành đối với hết mọi người trong mọi quốc gia và dân tộc.

b. Nguyên tắc sáng tạo và hành động tặng không của Thiên Chúa

26. Suy tư của các Tiên Tri và suy tư trong Văn Chương Khôn ngoan, để đi tới nguyên tắc mọi sự đều do Thiên Chúa tạo thành, đă đề cập đến lần đầu tiên việc Thiên Chúa bày tỏ kế hoạch của Ngài đối với toàn thể nhân loại và nguyên tắc này cũng trở thành nguồn cội cho toàn thể kế hoạch dành cho con người. Trong cách tuyên xưng niềm tin của người Israel, xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá, điều này không có nghĩa chỉ là bày tỏ một niềm tin lư thuyết, mà c̣n nắm bắt được tầm mức rộng lớn của hành vi tặng không mà Thiên Chúa nhân hậu đă làm cho con người. Thật vậy, Thiên Chúa hoàn toàn tự do khi trao ban sự hiện hữu và sự sống cho tất cả mọi sự đang có. Chính v́ lư do đó, người nam cũng như người nữ, đă được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa (x. St 1,26-27), được mời gọi hăy trở thành dấu chỉ hữu h́nh và dụng cụ hữu hiệu để tỏ lộ hành vi tặng không của Thiên Chúa khi đặt họ vào vườn để canh tác và trông coi các công tŕnh sáng tạo.

27. Chỉ trong hành vi tự do của Thiên Chúa Tạo Hoá, chúng ta mới t́m được ư nghĩa chính xác của việc tạo dựng, dù rằng công tŕnh tạo dựng này đă bị tội lỗi làm biến dạng. Thật vậy, tŕnh thuật về cái tội đầu tiên (x. St 3,1-24) cho thấy nhân loại bị cám dỗ liên tục và sống trong t́nh cảnh xáo trộn sau khi tổ tiên ḿnh sa ngă. Bất tùng phục Thiên Chúa tức là né tránh sự chăm sóc yêu thương của Ngài và đ̣i kiểm soát cuộc đời và hành vi của ḿnh trong thế giới. Cắt đứt mối quan hệ hiệp thông với Thiên Chúa là gây ra đổ vỡ trong chính sự thống nhất nội tâm của con người, trong những mối quan hệ giữa người nam và người nữ, cũng như trong những mối quan hệ hài hoà giữa loài người và các thụ tạo khác29. Muốn t́m gốc rễ sâu xa nhất của mọi tệ đoan đang ảnh hưởng tới các mối quan hệ xă hội giữa con người với nhau, của tất cả những t́nh huống trong đời sống kinh tế và chính trị đang tấn công phẩm giá con người, đang hăm hại công lư và t́nh liên đới, th́ phải t́m trong lần xa cách chia ĺa đầu tiên ấy.

II. ĐỨC GIÊSU KITÔ, SỰ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA CHA

a. Nơi Đức Giêsu Kitô, biến cố mang tính quyết định trong lịch sử quan hệ của Thiên Chúa với loài người được thực hiện

28. Ḷng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa đă thúc đẩy Ngài hành động, đồng thời đă cho chúng ta ch́a khoá để hiểu các hành động ấy, nay trở nên gần gũi con người đến nỗi chúng mang dáng dấp của một con người, tên là Giêsu, tức là Ngôi Lời đă thành xương thành thịt. Trong Tin Mừng thánh Luca, Đức Giêsu mô tả tác vụ cứu thế của ḿnh bằng những lời lẽ của Isaia, cho chúng ta biết ư nghĩa tiên tri của năm toàn xá: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, v́ Ngài đă xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù sáng mắt, giải phóng những ai bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19; x. Is 61,1-2). Như thế, Đức Giêsu đă tự xếp ḿnh vào hàng ngũ những người hoàn tất, không phải chỉ v́ Người đă thực hiện những ǵ Thiên Chúa đă hứa và những ǵ dân Isarel chờ đợi, mà sâu xa hơn c̣n v́, biến cố mang tính quyết định trong lịch sử, quan hệ của Thiên Chúa với con người đă được thực hiện nơi Đức Giêsu. V́ thế, Người mới dám tuyên bố: “Ai thấy Ta là đă thấy Cha” (Ga 14,9). Nói cách khác, Đức Giêsu chính là bằng chứng để chúng ta thấy tận mắt Thiên Chúa đă hành động quả quyết thế nào đối với con người.

29. T́nh yêu thôi thúc Đức Giêsu thi hành sứ vụ giữa loài người chính là t́nh yêu Người đă nghiệm thấy khi kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Tân Ước giúp chúng ta đi sâu hơn trong kinh nghiệm mà Đức Giêsu đă từng sống và truyền đạt cho chúng ta, kinh nghiệm về t́nh yêu của Chúa Cha, mà Người gọi là “Abba, Cha ơi!”, và từ đó, giúp chúng ta đi vào chính trung tâm đời sống Thiên Chúa. Đức Giêsu loan báo t́nh thương giải phóng của Thiên Chúa cho những ai Người gặp trên đường của ḿnh, trước hết là những người nghèo, những người bị gạt ra bên lề, những người tội lỗi. Người mời gọi tất cả mọi người đi theo Người v́ Người là người đầu tiên tùng phục kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, và Người làm việc này một cách hết sức đặc biệt như người sứ giả được Thiên Chúa sai đến thế gian.

Việc Đức Giêsu ư thức ḿnh là Con là một biểu hiện của kinh nghiệm ưu tiên đó. Con được Cha ban cho mọi thứ và được ban cho một cách hoàn toàn tự do: “Mọi sự của Cha đều là của Thầy” (Ga 16,15). Đến lượt ḿnh, sứ mạng của Người là làm cho mọi người chia sẻ hồng ân ấy và chia sẻ quan hệ con cái ấy: “Thầy không c̣n gọi anh em là tôi tớ nữa v́ tôi tớ không biết việc chủ làm; nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu v́ tất cả những ǵ Thầy nghe thấy nơi Cha Thầy, Thầy đă cho anh em biết” (Ga 15,15).

Đối với Đức Giêsu, nhận ra t́nh yêu của Chúa Cha có nghĩa là phải uốn nắn các hành vi của ḿnh theo ḷng thương xót và vô vị lợi của Thiên Chúa; chính những điều này làm cho sự sống mới được khai sinh. Hay có nghĩa là trở nên tấm gương và khuôn mẫu cho các môn đệ từ chính sự hiện hữu của ḿnh. Những ai đi theo Đức Kitô được kêu gọi hăy sống như Người, và sau khi Người vượt qua cái chết và sống lại, c̣n phải sống trong Người và nhờ Người, dựa vào một hồng ân hết sức phong phú là Chúa Thánh Thần, c̣n gọi là Đấng An Ủi, Ngài sẽ t́m cách đưa nếp sống riêng của Đức Kitô vào trong tâm hồn con người.

b. Mạc khải t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi

30. Trước sự ngạc nhiên không ngừng của những người đă từng cảm nghiệm t́nh yêu khôn tả của Thiên Chúa (x. Rm 8,26), Tân Ước dựa vào mạc khải đầy đủ về t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, được bày tỏ trong cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô, để cho chúng ta hiểu đâu là ư nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm Chúa Con Nhập thể và sứ mạng của Người giữa muôn người. Thánh Phaolô viết: “Nếu Thiên Chúa đă bênh vực chúng ta, ai dám chống lại chúng ta? Thiên Chúa đă không tha chính Con ḿnh mà đă trao nộp Người v́ tất cả chúng ta, chẳng lẽ Thiên Chúa sẽ không trao cho chúng ta mọi sự cùng với Người Con ấy?” (Rm 8,31-32). Thánh Gioan cũng nói tương tự như thế: “T́nh yêu cốt ở điều này, là không phải chúng ta yêu Thiên Chúa nhưng chính Ngài yêu thương chúng ta trước và đă gửi Con ḿnh đến đền tội thay cho chúng ta” (1 Ga 4,10).

31. Dung mạo Thiên Chúa, dần dần được tỏ lộ trong lịch sử cứu độ, chiếu sáng trong tất cả đường nét của ḿnh nơi dung mạo Đức Giêsu Kitô, Đấng đă bị đóng đinh và đă sống lại từ cơi chết. Thiên Chúa ấy là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần; thật sự riêng biệt và thật sự là một, v́ Thiên Chúa là sự hiệp thông vô tận của yêu thương.

T́nh yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho nhân loại được mạc khải trước tiên như một t́nh yêu xuất phát từ Cha – từ đó mọi sự được khơi nguồn; rồi như một t́nh yêu được truyền thông tự do cho Con, và đến lượt ḿnh, Con cũng hiến thân cho Cha và cho loài người; cuối cùng như một thành quả luôn mới mẻ của t́nh yêu Thiên Chúa mà Thánh Thần sẽ đổ vào ḷng con người (x. Rm 5,5).

Bằng lời nói và việc làm, cũng như một cách trọn vẹn và dứt khoát, bằng cái chết và sự sống lại của ḿnh30, Đức Giêsu đă mạc khải cho nhân loại thấy Thiên Chúa là Cha và tất cả chúng ta đều được mời gọi trở nên con cái Ngài trong Thánh Thần (x. Rm 8,15; Gl 4,6), và từ đó trở nên anh chị em với nhau. Chính v́ lư do này mà Giáo Hội tin chắc rằng “bí quyết, trung tâm và mục tiêu của toàn bộ lịch sử nhân loại đều ở nơi Đức Giêsu Kitô, là Chúa và là Thầy của ḿnh”31.

32. Khi suy niệm về món quà tặng không rất dồi dào là Chúa Con mà Thiên Chúa Cha đă ban, một điều mà Đức Giêsu đă giảng dạy và đă làm chứng bằng cách xả thân v́ chúng ta, tông đồ Gioan đă khám phá ra ư nghĩa sâu xa nhất và hiệu quả hợp lư nhất của món quà ấy. “Hỡi các con yêu dấu, nếu Thiên Chúa yêu chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nếu chúng ta yêu thương nhau, Thiên Chúa sẽ ở trong chúng ta và t́nh yêu của Ngài đă trở nên tuyệt hảo nơi chúng ta” (1 Ga 4,11-12). Sự trao đổi trong t́nh yêu là điều được yêu cầu trong lệnh truyền mà Đức Giêsu gọi là “điều răn mới” và cũng là “điều răn của Người”: “đó là anh em hăy yêu thương nhau; như Thầy đă yêu thương anh em, anh em cũng phải yêu thương nhau” (Ga 13,34). Yêu thương nhau chính là cách để chúng ta sống đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi trong Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Kitô, và là cách để chúng ta làm thay đổi lịch sử cho tới khi lịch sử ấy hoàn thành mỹ măn trong Giêrusalem thiên quốc.

33. Điều răn yêu thương nhau, tượng trưng cho luật sống của dân Chúa32, phải là nguồn cảm hứng, nguồn thanh lọc và nâng cao mọi quan hệ nhân loại trong xă hội và trong chính trị. “Làm người có nghĩa là được mời gọi hiệp thông giữa người với người”33, v́ được làm h́nh ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi và giống Thiên Chúa Ba Ngôi, đó chính là nền tảng cho toàn bộ “đạo đức học của con người”, đạo đức học này đạt tới cao điểm trong điều răn yêu thương”34. Hiện tượng lệ thuộc nhau về văn hoá, xă hội, kinh tế và chính trị trong thế giới hiện nay làm tăng cường và làm rơ hơn mối dây thống nhất gia đ́nh nhân loại, một lần nữa lại làm nổi bật trong ánh sáng của mạc khải “một mô h́nh mới của sự hợp nhất nhân loại, mô h́nh này hẳn phải tạo cảm hứng cho chúng ta liên đới với nhau. Mô h́nh hợp nhất ấy, phản ánh sự sống thân mật của Thiên Chúa – một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi, đó chính là điều mà các Kitô hữu muốn diễn tả khi nói tới “hiệp thông35.

III. CON NGƯỜI TRONG KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA

a. T́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn gốc và là mục tiêu của con người

34. Khi mầu nhiệm Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Kitô như t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, th́ đồng thời ơn gọi của con người là yêu thương cũng được mạc khải. Mạc khải này soi sáng cho chúng ta hiểu phẩm giá con người và sự tự do của con người trong mọi khía cạnh, cũng như hiểu bản tính xă hội của con người một cách sâu xa. “Là con người theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa… cũng là được hiện hữu trong một tương quan, trong tương quan với một ‘cái tôi’ khác36, v́ bản thân Thiên Chúa – vừa là một vừa là ba – chính là sự hiệp thông giữa Cha, Con và Thánh Thần”.

Con người được mời gọi hăy khám phá nguồn gốc và mục tiêu của cuộc đời và lịch sử đời ḿnh nơi sự hiệp thông yêu thương của Thiên Chúa, v́ nơi đó Ba Ngôi yêu thương nhau và chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng), các Nghị phụ Công đồng dạy rằng “khi cầu xin Cha ‘cho chúng nên một… như Chúng Ta là một’ (Ga 17,21-22), Chúa Giêsu Kitô đă mở ra những chân trời mới mà lâu nay trí khôn con người chưa khám phá, đó là nh́n nhận có một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của con cái Thiên Chúa trong sự thật và t́nh yêu. Sự tương tự này cho thấy nếu con người là thụ tạo duy nhất trên thế gian này mà Thiên Chúa muốn tạo dựng v́ chính con người, th́ con người chỉ có thể khám phá ra bản ngă đích thực của ḿnh khi chân thành trao ban chính ḿnh (x. Lc 17,33)”37.

35. Mạc khải Kitô giáo đă chiếu ánh sáng mới mẻ cho chúng ta hiểu bản sắc, ơn gọi và định mệnh cuối cùng của con người và của nhân loại. Mỗi người đều do Thiên Chúa tạo dựng, đều được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, và sẽ tự hoàn thành chính ḿnh bằng cách thiết lập mạng lưới quan hệ yêu thương, công bằng và liên đới với những người khác, khi tiến hành các việc làm khác nhau trong thế giới. Bất cứ hoạt động nào của con người mà giúp phát huy phẩm giá và ơn gọi đầy đủ của con người, đẩy mạnh các điều kiện sống cho có chất lượng và giúp các dân tộc, các quốc gia liên đới với nhau, đều là những hoạt động phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng không ngừng bày tỏ t́nh yêu và sự quan tâm lo lắng cho con cái ḿnh.

36. Các trang đầu tiên của cuốn sách thứ nhất trong Thánh Kinh, khi mô tả con người được tạo dựng theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa (x. St 1,26-27), đă bao gồm một giáo huấn cơ bản về bản sắc và ơn gọi của con người. Chúng cho chúng ta biết rằng tạo dựng con người là một hành vi hoàn toàn tự nguyện và vô điều kiện của Thiên Chúa; v́ là những con người tự do và có hiểu biết, nên con người chính là “tha nhân” do Chúa sáng tạo, và chỉ khi liên hệ với Ngài, con người mới khám phá ra, mới thực hiện được đúng đắn và đầy đủ ư nghĩa của đời sống cá nhân cũng như xă hội của ḿnh. Chúng c̣n cho ta hiểu rằng chính khi con người bổ túc cho nhau và trao đổi với nhau, con người mới là h́nh ảnh t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa trong vũ trụ. Đấng Tạo Hoá cũng trao cho con người, chóp đỉnh của công tŕnh tạo dựng, nhiệm vụ sắp xếp thiên nhiên được tạo thành ấy theo ư định của Ngài (x. St 1,28).

37. Sách Sáng Thế c̣n cung cấp cho chúng ta một số nền tảng làm nên khoa nhân học Kitô giáo như phẩm giá bất khả chuyển nhượng của con người, gốc rễ và bảo chứng của phẩm giá ấy nằm trong ư định sáng tạo của Thiên Chúa; bản tính xă hội chủ yếu của con người mà mẫu gốc của bản tính ấy là mối quan hệ nguyên thuỷ giữa người nam và người nữ, sự kết hợp của hai người này “chính là h́nh thức hiệp thông đầu tiên giữa con người với con người”38. Ư nghĩa của những hoạt động con người thực hiện trong thế giới có liên quan tới việc khám phá và tôn trọng các định luật tự nhiên do Thiên Chúa khắc ghi trong vũ trụ mà Ngài đă tạo thành, để con người có thể sống trong vũ trụ ấy và chăm sóc vũ trụ ấy theo ư muốn của Thiên Chúa. Cái nh́n về con người, xă hội và lịch sử này bám rễ rất sâu trong Thiên Chúa và sẽ được thấy rơ hơn nữa khi kế hoạch cứu độ trở thành hiện thực.

b. Sự cứu độ của Kitô giáo: dành cho hết mọi người và cho con người toàn diện

38. Sự cứu độ do sáng kiến của Chúa Cha được gửi tặng cho con người một cách sung măn trong Đức Giêsu Kitô, rồi được thực hiện và truyền lại cho chúng ta nhờ hoạt động của Thánh Thần, là sự cứu độ dành cho hết mọi người và là sự cứu độ toàn diện con người: đó là sự cứu độ phổ quát và toàn diện. Nó liên quan đến con người trong hết mọi chiều hướng: chiều hướng cá nhân lẫn xă hội, thể lư lẫn tâm linh, lịch sử lẫn siêu việt. Nó đă bắt đầu trở thành một hiện thực trong lịch sử v́ bất cứ điều ǵ được tạo dựng đều tốt và đều do Chúa muốn, cũng như v́ Con Thiên Chúa đă trở nên một người giữa chúng ta39. Tuy nhiên, để hoàn tất, nó c̣n phải chờ đến tương lai khi mọi người chúng ta, cùng với toàn thể thụ tạo (x. Rm 8), được chia sẻ sự sống lại của Đức Kitô và được hiệp thông vĩnh viễn vào sự sống của Chúa Cha trong niềm vui của Thánh Thần. Quan niệm như thế đă cho thấy rơ sai lầm và dối trá của những cái nh́n thuần tuư nội tại về ư nghĩa của lịch sử và của những ai đ̣i tự cứu lấy ḿnh.

39. Sự cứu độ mà Thiên Chúa gửi tặng con cái Ngài đ̣i hỏi họ phải tự nguyện hưởng ứng và chấp nhận. Đức tin cốt ở tại điều ấy, và thông qua việc này, “con người tự nguyện hiến dâng trọn vẹn bản thân ḿnh cho Chúa”40, đáp lại t́nh yêu đi bước trước và rất dồi dào của Thiên Chúa (x. 1 Ga 4,10) bằng cách yêu thương anh chị em ḿnh một cách cụ thể và bằng cách luôn sống trong hy vọng, v́ “Đấng đă hứa với chúng ta là Đấng luôn trung thành” (Dt 10,23). Thật ra, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa không khiến con người phải ở thế thụ động hay lép vế khi liên hệ với Đấng Tạo Hoá, v́ mối quan hệ của chúng ta với Chúa, như Đức Kitô đă mạc khải cho chúng ta và đă t́nh nguyện nhờ Thánh Thần biến chúng ta thành những người đồng thừa tự, chính là mối quan hệ của con cái đối với cha ḿnh, cũng chính là mối quan hệ mà Đức Giêsu đă từng sống với Chúa Cha (x. Ga 15-17; Gl 4,6-7).

40. Chính v́ ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại vừa phổ quát vừa toàn diện, nên mối quan hệ mà mỗi người chúng ta được mời gọi liên kết với Chúa không thể tách rời khỏi trách nhiệm chúng ta phải thi hành đối với anh em ḿnh trong những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Điều này chúng ta có thể cảm nhận qua sự t́m kiếm của hết mọi người đi t́m sự thật và ư nghĩa cuộc đời, dù không phải lúc nào cũng tránh được sự hồ đồ hay ngộ nhận. Sự t́m kiếm ấy cũng là nền tảng cho Thiên Chúa kư kết giao ước với dân Israel, như các tấm bia ghi Mười Điều Răn và giáo huấn của các ngôn sứ đă chứng nhận.

Tương quan này càng trở nên rơ ràng và chính xác hơn trong giáo huấn của Đức Giêsu, đồng thời được xác nhận cách dứt khoát qua bằng chứng tuyệt vời của Người khi hy sinh mạng sống ḿnh v́ vâng theo ư muốn của Chúa Cha và v́ yêu thương anh chị em ḿnh. Khi nghe một kinh sư hỏi “Điều răn nào là quan trọng nhất?” (Mc 12,28), Đức Giêsu đă trả lời: “Điều răn thứ nhất là: ‘Hỡi Israel, hăy lắng nghe: Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi là Đấng duy nhất; ngươi phải yêu mến Ngài với hết cả tâm hồn, linh hồn, trí khôn, và hết sức lực ngươi’. C̣n điều răn thứ hai là: ‘Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính ḿnh. Không có điều răn nào lớn hơn hai điều răn ấy” (Mc 12,29-31).

Trong tâm hồn con người, hai điều này liên kết với nhau chặt chẽ đến nỗi không thể tách rời nhau: đó là mối quan hệ với Chúa – như là Đấng Tạo Hoá và như là người Cha của ḿnh, mối quan hệ này là nguồn gốc và là đích điểm của sự sống và sự cứu độ – và sự cởi mở để yêu thương con người một cách cụ thể, như yêu thương chính bản thân ḿnh, kể cả khi người ấy là kẻ thù (x. Mt 5,43-44). Phân tích tới cùng, chúng ta sẽ thấy việc cam kết thực thi công bằng và liên đới để xây dựng một cuộc sống xă hội, kinh tế và chính trị theo đúng kế hoạch của Chúa đă bắt nguồn từ nội tâm sâu xa của con người.

c. Môn đệ của Đức Kitô là một thụ tạo mới 

41. Đời sống cá nhân và xă hội, cũng như bất cứ hành vi nào của con người trong thế giới, luôn luôn bị tội lỗi đe doạ. Thế nhưng, “bằng cách chịu khổ v́ chúng ta…, Đức Giêsu Kitô không những làm gương cho chúng ta để chúng ta bước theo Người, mà Người c̣n mở ra cho chúng ta một con đường. Nếu đi theo con đường ấy, cuộc sống và cái chết của chúng ta sẽ được thánh hoá và mặc một ư nghĩa mới”41. Trong đức tin và thông qua các bí tích, người môn đệ Đức Kitô gắn bó mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu để con người cũ của ḿnh, cùng với những khuynh hướng xấu, chịu đóng đinh với Đức Kitô. Rồi khi trở thành thụ tạo mới, họ được ân sủng tăng sức để có thể “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). Điều này “không chỉ đúng với các Kitô hữu, mà c̣n đúng đối với mọi người thiện chí, v́ ân sủng vẫn đang hoạt động cách vô h́nh trong tâm hồn những người ấy. V́ Đức Kitô đă chết cho mọi người và v́ ai ai cũng được mời gọi hưởng chung một định mệnh duy nhất – một định mệnh thần thánh – nên chúng ta phải tin rằng Thánh Thần sẽ ban cho mọi người khả năng trở thành những người tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, bằng cách nào chỉ có Chúa biết mà thôi”42.

42. Sự biến đổi nội tâm con người, làm cho họ dần dần trở nên giống Đức Kitô, chính là điều kiện tiên quyết cần thiết để các mối quan hệ của họ với người khác được biến đổi thật sự. “Thế nên, cần lưu ư tới những khả năng tâm linh và luân lư của con người, cũng như nhu cầu cần hoán cải nội tâm thường xuyên, để tạo ra những thay đổi về xă hội thực sự có ích cho họ. Nh́n nhận thế ưu tiên của việc hoán cải tâm hồn không có nghĩa là loại bỏ, trái lại c̣n bắt chúng ta phải t́m những phương dược thích hợp để sửa chữa các tổ chức và các điều kiện sống có nguy cơ dẫn tới tội, để chúng trở nên phù hợp với các chuẩn mực của công bằng, thúc đẩy điều tốt hơn là ngăn cản điều tốt”43.

43. Không thể yêu tha nhân như chính ḿnh và kiên tŕ giữ vững cách sống ấy nếu không có quyết tâm vững vàng và liên tục để làm cho mọi người và mỗi người được tốt, v́ ai trong chúng ta cũng thật sự chịu trách nhiệm về mọi người44. Theo giáo huấn của Công đồng, “mọi người đều có quyền đ̣i chúng ta phải kính trọng và yêu thương, dù họ suy nghĩ và hành động khác với chúng ta về các vấn đề xă hội, chính trị và tôn giáo. Thật vậy, càng t́m hiểu sâu xa lề lối suy nghĩ của họ qua ḷng tốt và yêu thương của ḿnh, chúng ta càng có khả năng đối thoại với họ dễ dàng hơn”45. Muốn theo con đường này, chúng ta cần có ơn Chúa: Chúa sẽ ban cho con người ơn ấy để giúp con người vượt thắng các khuyết điểm, để kéo con người ra khỏi ṿng luẩn quẩn của dối trá và bạo động, để nâng đỡ và thôi thúc con người khôi phục lại, với một tinh thần luôn luôn mới mẻ và sẵn sàng, cả một mạng lưới quan hệ trung thực và đúng đắn với anh chị em đồng loại của ḿnh46.

44. Ngay cả mối quan hệ với vũ trụ được tạo dựng và các hoạt động của con người nhằm chăm sóc và biến đổi vũ trụ ấy cũng luôn luôn bị đe doạ bởi tính kiêu ngạo và t́nh yêu vị kỷ vô trật tự của con người, nên cần phải được thanh luyện và kiện toàn bằng thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô. “Được Đức Kitô cứu chuộc và được Thánh Thần biến đổi thành thụ tạo mới, con người có khả năng, thậm chí có bổn phận yêu thương mọi sự trong công tŕnh tạo dựng của Chúa: con người tiếp nhận chúng từ Thiên Chúa, con người phải ngắm nh́n và tôn trọng chúng như chúng đang được ban ra từ bàn tay Thiên Chúa. Con người phải cám ơn vị ân nhân thần linh ấy về tất cả các điều đó, sử dụng và thụ hưởng chúng trong tinh thần khó nghèo và tự do. Bằng cách đó, con người thật sự làm chủ thế giới như thể không có ǵ hết nhưng lại có tất cả: “Mọi sự là của anh em; nhưng anh e